BonjourVietnam
Nhớ người Thương Binh  KQ Captovan
Bonjour Vietnam Cao minh Duyen Góc Chiến Trường Xưa  Trần hoài Thư
Chuyện Tử Tế, Duyên Lãng Tù Cải Tạo  Trần văn Ngà
Bonjour Việt Nam, Sơn Nghị  
Thuở Học Trò Nguyễn khắc Kình  
Thư gửi Con Cháu  
Hoài niệm một chuyến đi  Vũ ngọc Bích  
Giả Từ Quân Ngũ  Vũ ngọc Bích  
Hình ành đep Việt Nam  
Trúng số Vũ ngọc Bich  
Mối Tình Kinh Tế - Nguyễn hữu Thời  
 

Comments = BONJOUR VIETNAM
    name = CAO-MINH-DUYÊN
Bài hát Bonjour Vietnam thật buồn,ray rúc để diển đạt nổi khao khát tìm vềcộinguồn,nhũng thắc mắc của nhũng ngùoi trẻ xa quê mẹ khi chào đòi noi xa xôi ngòai đất mẹ.Đất mẹ Việt-Nam thật điêu tàn sau nhũng tháng năm dài trong cuộc chiến xâm lăng của ngọai bang,đất mẹ Việt-Nam đả bị tàn phá triền miên trong thòi kỳ tranh đấu giành tụ do,dân chủ chống lại bành trúong của chủ nghĩa cộng sãn Mác-Lê.Hình ảnh quê mẹ bị tan nát,đau buồn dúoi bom đạn dày xéo ngày tháng dài qua bao thập niên chiến tranh vẫn còn vang bóng đâu đây trong lòng nhũng ngùoi Việt xa quê nhà mải mải.Con cháu của họ đả sanh ra khi còn nằm trên ghe vụot biển,vụot rùng sâu đi ra khỏi quê mẹ
hoặc ra chào đòi khi cha mẹ chúng đả định cu sống tại một quốc gia tụ do,đầy đủ nhân quyền,chúng làm thế nào có thể hình dung một quê mẹ Việt-Nam noi tổ tiên,ông cha đả tạo dụng,xây dụng một đất mẹ đẹp xinh,trù phú và mong để lại cho con cháu trong ngày mai một dải đất thiêng liêng đầy tài nguyên và hùng mạnh.Chúng làm sao nhìn thấy hết vẽ đẹp tho mộng,lộng lẫy của mọi vùng đất núoc cao nguyên,đồng bằng,sông hồ và đại duong mênh mông.v.v.Chính là nỗi khao khát đáng yêu của con cháu chúng ta khi trủong thành noi xa xôi muốn tìm về cội nguồn mình,mong nhìn thấy hình ảnh quê mẹ,mong tiếp xúc vói đồng bào ruột thịt cùng chung mảnh đất mẹ Việt-Nam.Chính đây là nhũng thắc mắc tôi nghiệp của giói trẻ muốn hiểu biết về phong tục,tập quán của ông cha VN,muốn hiểu biết sinh họat và cuộc sống của nhũng đồng bào còn đang sinh sống tại quê nhà.Các em cháu muốn nghe và học nhũng bài ca dao,đồng dao,câu hò ngòai đồng lúa hay trên nhũng dòng sông.v.v.Còn thật nhiều điều các em cháu muốn tìm tòi,hiểu biết về quê mẹ VN.Bài hát Bonjour Viêt-Nam sẽ là bài hát đầu tiên,căn bản để các em cháu bắt đầu một ấn tụong của quê mẹ,để chúng dần dần đi sâu vào nhũng khám phá hòan tòan về đất núoc mẹ VN mến yêu.
Sydney 21/02/06

 

Go to TOP

 
CHUYỆN TỬ TẾ (chuyện ngắn)
             Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
 
     Học hết năm đầu đại học khoa học chứng chỉ Lý Hóa Nhiên (SPCN), anh nhẩy sang thi và đậu vào trường quân y.  Học ngành này anh tự tin rằng tương lai đang ở trước mặt. Năm đó, anh về quê để hưởng một kỳ hè cho thật thoải mái. Từ ngày đi học xa nhà, đây là lần thứ nhất anh tự ban phát ân huệ cho mình. Quê anh ở thị trấn Phụng Hiệp hay còn gọi là Ngã Bẩy, nằm giữa con đường Cần Thơ đi Sóc trăng. Mẹ anh đang làm chủ một nhà máy xay lúa gần thị trấn. Mỗi ngày anh ra chợ Ngã Bẩy uống cà phê và đấu láo để giết thì giờ. Sáng, trưa, chiều bất kể. Người đối ẩm là bất kỳ ai. Tính anh xề xòa dễ dãi nên ai cũng hợp.
     Còn vài hôm nữa anh phải trở lên Saigon. Niên học mới sắp bắt đầu. Buổi chiều anh mời bạn bè ăn uống để từ giã họ. Ăn vừa xong, một bà thầy bói dạo đến mời coi bói. Cả bọn cho rằng đây là một trò giải trí có ý nghĩa nên đồng ý mời bà coi cho từng người. Anh chẳng cảm thấy hứng thú gì nhưng cũng chiều ý bạn bè. Bà thầy bói thực ra cũng không phải là chuyên nghiệp. Bà là người Miên, tu Phật tại gia, ở trong xẻo ra. Trong lúc chờ đò máy trở vô, bà đến làm quen với bọn thanh niên góp chuyên cho vui vậy thôi. Bói toán chỉ là thú vui chứ không phải nghề sinh sống của bà. Tới lượt anh, bà hỏi về tuổi tác, tên gọi, hướng nhà, rồi sở thích v.v.. Anh trả lời từng điểm. Riêng về tuổi thì anh chỉ nhớ năm sinh mà không biết là tuổi gì. Bà thầy bấm đốt ngón tay rồi xác định:
-    Phải rồi cậu tuổi tý.
      Anh chẳng hiểu tuổi tý là tuổi con gì. Anh không cần biết, nhưng vẫn kiên nhẫn ngồi nghe bà thầy giải đoán lá số của mình. Bà nói đại khái là anh không được hưởng gia tài cha mẹ để lại, không làm cái nghề mà anh muốn theo đuổi, phải lang thang phiêu bạt xứ người. Anh sẽ lấy một người vợ mà không bao giờ anh ngờ tới, nhưng người đàn bà này rất mực yêu thương chồng. Điều quan trọng bà nhấn mạnh là tất cả những biến chuyển lớn trong đời anh đều có liên quan tới cái tên của anh. Và còn nhiều nữa …… Nhưng ngay sau đó anh đã quên béng đi những lời bà thầy bói ngay giữa bàn tiệc, bởi vì anh không bao giờ tin vào tử vi hay bói toán. Mấy lời anh coi là nhảm nhí kia chỉ như gió thoảng bên tai. Mãi sau này càng lúc anh càng nghiệm ra chuyện bói toán ngày trước ít nhiều đã trở thành hiện thực trong đời anh. 
     Anh tên thực là Tỷ, họ Bùi, tức Bùi Tỷ. Khi đi trình diện cải tạo, tên bộ đội đọc danh sách kêu tên Bùi Tý. Không ai trả lời. Hắn kêu tới lần thứ ba anh mới giơ tay lên nói:
-    Có Bùi Tỷ chứ không có Bùi Tý.
     Tên bộ đội xua tay gắt:
-    Tý hay Tỷ gì cũng được. Đứng qua bên này.
     Thế là anh chạy qua đám những người đã được kêu tên.
     Vô tù, anh nhất định khai trên lý lịch là Bùi Tỷ, nhưng anh có khai mấy cũng bằng thừa. Bọn cán bộ răng đen mã tấu vẫn cứ biến Tỷ thành Tý, vì trong danh sách anh là Bùi Tý rồi. Anh nêu vấn đề này với tên quản giáo, nhưng lời anh nói chỉ như nước đổ lá khoai. Hắn không xét những chuyện lặt vặt đó. Tên anh bây giờ là một con số, hắn không sợ gì nhầm lẫn được. Việc của hắn là canh giữ anh để anh khỏi trốn trại. Thế là xong. Ở trong trại, ai cũng gọi anh là Tý. Anh chán nản không thèm cải chính nữa. Khi ra tù, trên tờ giấy ra trại, tên của anh là Bùi Tý.
     Sang Mỹ, ba cái chuyện lẻ tẻ kia không còn làm anh bận tâm nữa. Vấn đề bây giờ là làm ăn để kiếm sống. Ở đây, người ta không còn xài ba cái thứ râu ria trên chữ viết. Tên anh lại đựơc giản lược đi thành ra là Ty (không dấu),Ty Bui. Với cái tên giản lược và đầu đuôi lộn tùng phèo này, mọi việc coi như đều suông sẻ. Chỉ có một chút trục trặc nhỏ lần anh được phỏng vấn để đi Mỹ. Người Mỹ phỏng vấn, ông ta rất niềm nở. Vừa gặp mặt, ông ta đã đưa tay ra bắt tay anh chào hỏi:
-    Good morning Mr. and Mrs. Thai Bui.
     Anh gật đầu chào lại. Anh hiểu lối người Mỹ phát âm tiếng Việt. Nhưng chị công an thông dịch viên lại không hiểu. Chị hầm hầm nét mặt, cầm sấp hồ sơ vừa tiếng Mỹ vừa tiếng Việt của anh trong tay, dơ lên hạ xuống, rồi lật qua lật lại, xem chừng chị đọc kỹ lắm. Chị hạch sách anh tại sao khi thì Tý, khi thì Tỷ, rồi lại còn Ty nữa? Cuối cùng chị đặt nghi vấn với người Mỹ phỏng vấn anh. Người Mỹ nhìn anh tủm tỉm cười rồi quay sang nói với chị thông ngôn:
-    Chuyện nhỏ thôi (not a big problem).
     Chị công an xem chừng chưa thỏa mãn. Ông Mỹ phải xác định lại:
-    Thật ra không phải là vấn đề (of course, no problem).
     Anh tin rằng ông Mỹ nói được tiếng Việt, hiểu văn hóa Việt, và những lắt léo trong các âm từ Việt. Ông hiểu những gì nói qua nói lại giữa anh và người thông ngôn, nhưng ông ta vẫn trả lời chị công an bằng tiếng của mình. Thái độ và lời nói của người phỏng vấn chẳng khác nào như muốn nói với chị ta: Đừng có dở trò, tao chạy xe hơi trong bụng mày rồi đấy. Những người lối xóm của anh, bạn bè mới quen, tới những nơi công cộng như xin việc, làm giấy tờ v.v., mọi người đều biết anh dưới cái tên không có dấu đó. Gọi anh là Ty Bui hay Thai Bui như lối phát âm của người Mỹ anh cũng cười xòa vui vẻ. Anh tự tiếu lâm rằng thì ra cái tên của mình cũng lênh đênh theo vận nước mà nổi trôi. Cuộc đổi đời như thế đã đổi luôn cái tên cha mẹ đặt cho anh. Trước bàn thờ cha anh, anh cảm thấy ngậm ngùi và có phần se sắt về chuyện này. Nhưng biết làm sao hơn. Chỉ có vợ anh là còn chung thủy với cái tên Tỷ của anh. Trong cuộc đời, anh còn lại chút niềm vui nho nhỏ ấy. Đôi khi anh cũng phải cho là một chuyện lạ, niềm vui nhỏ bé kia lại đem đến cho anh từ một cô gái giao liên Việt Cộng.
     Đang học năm thứ ba, lễ Giáng Sinh anh về quê thăm mẹ. Anh đi xe đò Thuận Thành về Cần Thơ rồi chuyển xe Lam đi Phụng Hiệp. Trời đã về chiều. Con đường vắng vẻ. Chiếc xe Lam mới chạy chừng nửa tiếng, tới Cái Tắc thì bị Việt Cộng chận đường. Trên xe có 5 người, 3 đàn bà và 2 đàn ông là anh và một anh lính trẻ. Anh ta trông còn non choẹt. Anh và người lính bị bắt lại, còn 3 người đàn bà chúng cho đi. Con đường này xưa nay rất yên. Thỉnh thoảng VC đắp mô thì có. Hai hôm nay vào lúc chiều tối chúng ra đường chận xe bắt người. Chúng đưa hai người về gần Chương Thiện. Anh và người lính được đưa đến đây bằng ghe máy qua hai chặng trao, nhận người của du kích địa phương. Đây là một căn cứ trung chuyển, tiếp nhận tù binh và thương bệnh binh của VC vùng giáp ranh Cần Thơ, Ba Xuyên và Chương Thiện. Bọn du kích gọi là trạm. Bộ đội và du kích VC trong vùng bị thương hoặc bịnh được tập trung về đây để săn sóc sơ khởi. Nếu nhẹ, họ ở đây ít ngày rồi lại trở về đơn vị. Nếu nặng sẽ được chuyển đến bệnh viện vùng của VC. Tù binh bị bắt lẻ tẻ trong vùng này cũng được tập trung về đây rồi mới đưa vào U Minh. Kể cả anh và người lính mới được đưa đến hôm nay nữa, con số tù tất cả là 7 người gồm đủ thành phần lính, nhân viên xã ấp và dân bị tình nghi. Tối đến bọn du kích tập trung toán tù lại để nghe chỉ thị. Một cô gái còn rất trẻ nói với họ:
-    Các anh ở tạm đây, chắc cũng không bao lâu. Điều cần biết là các anh là những người có tội đối với cách mạng. Có anh trực tiếp chống lại cách mạng. Tội ấy nặng lắm. Có anh làm chỉ điểm cho địch. Tội ấy cũng không phải là nhỏ. Tuy nhiên cách mạng vẫn nhân đạo khoan hồng, không giết các anh mà còn cho các anh cơ hội để cải tạo. Các canh sẽ được đưa đến một chỗ để học tập cải tạo. Sau đó có thể phục vụ cho cách mạng nếu các anh muốn. Nếu các anh tỏ ra biết giác ngộ mà ăn năn hối cải, các anh sẽ được trở về với gia đình. Ở đây các anh không phải tù nên chúng tôi không trói các anh, cũng không nhốt các anh. Vì thế các anh đừng nên nuôi ý định trốn. Tôi còn cho phép các anh có thể trốn đi được thì cứ trốn. Nhưng tôi nói trước, ra khỏi đây không có đường bộ, các anh phải đi ghe máy. Sông rạch chằng chịt các anh không biết lối nào mà đi đâu. Có may mắn đi được cũng chỉ một trăm thước là các anh bị bắt lại rồi. Nếu bị bắt lại, các anh sẽ không còn được đối xử như thế này đâu. Tôi không nói hù các anh mà là nói thiệt. Tôi mong các anh hiểu và chấp hành cho thiệt nghiêm túc. . Riêng anh Tỷ, vì anh có chuyên môn về y. Chúng tôi đang cần những người như anh. Tôi sẽ cố gắng xin giữ anh ở lại đây. Tôi hy vọng là trên sẽ đồng ý.
     Đám tù được đưa đi vài ngày sau đó, cũng ban đêm. Một mình anh bị giữ ở lại.
     Trạm là những dẫy nhà nhỏ xập xệ rải rác núp dước các tàng cây, có lẽ ngụy trang để tránh máy bay. Đơn vị cơ hữu ngoài một toán du kích có nhiệm vụ giữ an ninh và di chuyển tù hoặc bệnh binh, còn lại bốn người một nam và ba nữ. Người đàn ông được gọi là bác sĩ và ba cô gái trẻ. Anh bác sĩ tên Nguyên là một học sinh lớp đệ tam trung học ở Saigon. Hắn bị dụ dỗ thoát ly ra bưng theo VC. Nguyên được huấn luyện cứu thương, chẩn bệnh và phát thuốc cấp tốc trong hai năm để trở thành bác sĩ trông nom cái trạm này. Dưới quyền điều động của "bác sĩ" Nguyên về chuyên môn là hai cô gái dáng dấp nửa quê nửa tỉnh. Cả hai đều lầm lỳ ít nói. Còn cô gái kia có vẻ như là "thủ trưởng" của trạm. Bác sĩ Nguyên chỉ phụ trách về chuyên môn.
     Đám tù bị đưa đi rồi, sáng hôm sau lại cũng cô gái trẻ hôm trước gọi anh đến, tự giới thiệu là Tuyền, căn dặn anh những qui định cần tuân thủ khi ở trạm. Nàng nói:
-     Tôi nhắc lại cho anh nhớ, anh không thể trốn khỏi đây được đâu cho nên anh cứ vui vẻ ở lại đây đi. Anh ở đây là để phục vụ cho cách mạng chứ không phải tù. Ở đây ăn uống chúng tôi sao, anh vậy, nhưng cũng phải nói là không được như ở nhà đâu. Mỗi khi có pháo, anh nhẩy xuống cái hố nào gần nhất. Ban đêm tuyệt đối không được ra khỏi lán khi không có lệnh. Anh chỉ phụ cho bác sĩ những gì anh ta cần đến anh, tuyệt đối không tự ý chữa trị cho ai hay cho thuốc nếu không có lệnh của bác sĩ. Những điều lệnh và kỷ luật về an toàn cơ sở đồng chí đội trưởng (du kích) sẽ cho anh biết sau. Từ nay trở đi anh theo đồng chí Nguyên để làm việc. Có điều gì thắc mắc anh cứ trực tiếp cho tôi biết. Những gì tôi nói là muốn tốt cho anh đấy.    
     Cô nàng muốn tốt cho mình? Dù sao cũng không đến nỗi quá khắt khe, anh nghĩ thế. Tất nhiên anh cũng tự nhủ cần phải tuân hành cho thật cặn kẽ. Chỉ có một điều anh không thể tuân theo triệt để được. Đó là vấn đề ăn uống. Mấy ngày nay trong các bữa ăn thỉnh thoảng anh thấy thức ăn có thịt chuột hoặc rắn. Anh ăn cá, cua hay lươn gì cũng được nhưng không thể ăn được chuột và rắn. Nghe nói đến chuột hay rắn anh đã thấy ghê rồi. 
     Cuộc sống ở đây thật là buồn chán. Nó khác hẳn với lối sống ở trường học mà anh đã quen. Công việc cũng không mấy bận rộn. Bộ đội bị thương đưa tới rồi lại đưa đi trung bình là sáu lượt người mỗi ngày. Theo lệnh của Tuyền, anh chỉ là người sai vặt của tên bác sĩ và anh chỉ làm đúng nhiệm vụ của tên sai vặt. Tuyền sắm cho anh một chiếc cần câu. Những lúc rảnh rỗi anh một mình câu cá. Đôi khi anh cũng tập cuốc đất trồng rau. Thực phẩm trong trại hầu như hoàn toàn là tự túc, đôi khi được cung cấp thịt heo hoặc gà vịt từ ngoài đem vào. Cuộc sống của một tên tù bị giam lỏng giữa khu rừng sình lầy đầy muỗi và rắn rít thật đáng sợ. Không khí hắc ám và những bộ mặt lạnh như tiền chung quanh làm anh càng lo sợ hơn. Chỉ một vài tiếng nổ nào đó từ xa vọng lại cũng làm anh hoảng hốt. Nhất là về ban đêm nghe tiếng pháo thì coi như anh bi thức trắng. Ấy thế mà hầu như không mấy đêm là anh không nghe tiếng đạn pháo đâu đấy chung quanh. Có khi nổ rất gần. Tuy nhiên điều lo sợ canh cánh trong anh vẫn là sợ bị khám phá ra lý lịch. Khi bị bắt, anh chỉ khai là sinh viên và nộp giấy căn cước. Anh khai là học y khoa và giấu nhẹm đi cái gốc gác quân y của mình. Chuyện này nếu lộ ra chắc chắn sẽ không khỏi mang thêm họa vào thân.
     Chỉ vài tuần lễ sau anh đã tiều tụy đi trông thấy. Vẫn những bộ mặt ấy, họ nhìn anh lạnh lùng. Anh thực sự cảm thấy cô đơn. Chỉ có Tuyền thỉnh thoảng còn hỏi han anh một vài câu bâng quơ đại khái như: có nhớ nhà không, hay: ráng khắc phục khó khăn rồi sẽ quen thôi.  Đôi khi anh bắt gặp Tuyền nhìn trộm anh hình như có vẻ thương hại. Khi thấy anh nhìn lại, nàng lập tức quay nhìn đi hướng khác. Tuyền khá đẹp, có duyên, thông minh và lanh lẹ. Có điều một cô gái còn trẻ như nàng mà lúc nào nét mặt cũng tỏ ra đăm chiêu u uẩn. Sự thể này vừa khiến anh tò mò, vừa gợi trong anh một mối giao cảm thầm kín. Sự có mặt của tuyền làm vơi đi phần nào sự buồn chán và nỗi nhớ nhà trong anh. Bọn cán bộ qua lại trạm không thiếu tên trồng cây si ở Tuyền nhưng xem chừng không có cây nào bén rễ được. Bọn chúng toàn thứ răng đen mã tấu, ăn nói cộc cằn, thiếu học, vả lại sống nay chết mai nên Tuyền không ngó tới. Và còn tên bác sĩ Nguyên nữa. Xem ra tên này cũng nặng cảm tình với nàng nhưng nàng không tỏ một dấu hiệu đáp ứng nào thuận lợi. Có lúc anh mơ tưởng người mà cô "thủ trưởng" trẻ kia để mắt đến biết đâu lại là anh. Tình cảm nẩy sinh trong anh đối với Tuyền mỗi lúc mỗi lớn lên trong nỗi cô đơn lạc lõng và lo sợ. Anh cũng không thể phân biệt nổi đó là tình yêu hay sự thương hại cho Tuyền và cho chính mình. Quả thật cứ nhìn vẻ u uẩn trên nét mặt Tuyền, nàng đáng thương hại thật. Lúc vắng nàng, anh cảm thấy như thiếu vắng một cái gì. Tuy nhiên anh vẫn phải tự kiềm chế để giữ khoảng cách mà thân phận bắt buộc.
     Có hồi trạm bị pháo thường xuyên mỗi đêm. Một hôm pháo ập đến ngay lúc chập tối. Cả gần chục trái pháo rơi ồ ạt vào ngay chính giữa trung tâm trạm. Trong lúc tối trời anh còn đang hoảng hốt chạy kiếm hầm núp, Tuyền nhận ra anh vội dục:
-    Xuống đây chứ còn chạy đi đâu nữa.
     Anh chưa kịp nhẩy xuống thì một quả đạn nổ ầm cách anh chỉ chừng mươi thước. Cây gẫy đổ. Đất cát bắn lên rớt xuống rào rào. Anh bị hất tung xuống hầm, đầu đập vào dàn cây che làm mái hầm. Anh choáng váng ngã đổ xuống đè lên người Tuyền.
-    Anh có sao không?
     Anh không trả lời, cũng không nhận ra tiếng người hỏi là Tuyền. Nàng cầm đèn pin soi khắp hầm và cả trên người anh. Bỗng nàng kêu lên:
-   Trời ơi! Anh bị thương rồi.
     Anh bị thương ở bắp đùi trái, chỉ rách thịt, chỗ rách khá sâu, mất đi một mảng thịt, nhưng không chạm đến gân và xương. Máu ra ướt cả ống quần. Tuyền đặt anh nằm xuống, lấy băng cấp cứu cột đại vết thương cho anh để tạm thời cầm máu. Một lúc sau yên pháo, nàng để anh nằm yên dưới hầm rồi nàng nhẩy lên, cầm đèn pin đi quan sát. Tuyền đi đến hầm chỉ huy của toán du kích. Nàng hỏi tên đội trưởng:
-    Tình hình thế nào?
-    Báo cáo đồng chí, một lán bị sập, các chiến sĩ bình an vô sự, cũng may hôm nay không có thương bệnh binh. Chỉ có tên Tỷ bị thương.
-   Sao đồng chí biết?
-   Lúc nãy đồng chí kêu lên hốt hoảng ai mà không nghe. Tôi đã báo cáo trên rồi.
-    Được, thế nào? – Nàng hỏi tiếp.
-    Trên lệnh giải quyết tên Tỷ.
     Tuyền vừa tức vừa giận đến run người, nàng thét vào mặt tên đội trưởng:
-    Làm sao, anh nói lại nghe?
-    Trên lệnh giải quyết tên Tỷ. - Tên đội trưởng nhắc lại.
-    Không được. Không thể được. Tôi cảnh cáo đồng chí.
-    Đồng chí dám cãi lại lệnh?
     Nàng muốn điên lên, sừng sộ với tên đội trưởng:
-    Ở đây ai là trưởng trạm? Tôi hỏi đồng chí.
-    Dĩ nhiên là đồng chí rồi.
-    Vậy tôi ra lệnh như thế này, các đồng chí có mặt ở đây cả không? Đồng chí Nguyên lập tức xuống hầm coi băng bó lại đàng hoàng cho anh Tỷ. Đồng chí đội trưởng chuẩn bị cho tôi một chiếc ghe thật tốt để đi xa, xăng dầu đầy đủ, với nước uống và một ít thức ăn. Tôi sẽ chuyển anh ta đi ngay bây giờ.
-    Đồng chí tính chuyển hắn đi đâu? – Tên đội trưởng hỏi.
-    Tôi đưa anh ta vô U-Minh. Trong đó người ta làm gì thì làm. Tôi đi rồi đồng chí cứ báo cáo như thế. Đồng chí an tâm. Tôi chịu trách nhiệm.
     Tuyền đưa anh đi ngay trong đêm. Nàng mở máy hết tốc lực. Chiến ghe lao đi trong đêm tối. Qua các trạm gác của du kích, nàng chỉ bấm đèn pin ra ám hiệu rồi lại phóng ghe chạy. Anh bị mất máu nhiều, đuối sức nên nằm yên bất động. Đi xa lắm rồi, Tuyền mới sực nhớ đến cái đầu anh bị đụng. Nàng lo ngại lắm, nhưng không còn cách nào hơn. Nàng vẫn cho ghe chạy, chốc chốc lại động viên tinh thần anh: Cố gắng lên nghe anh, sắp đến nơi rồi….Anh đừng làm em sợ nghe anh Tỷ…. ráng lên, em đưa anh về nhà ….      
     Gần sáng, tới khu vực an toàn, Tuyền táp ghe vô bờ để kiểm tra tình hình. Nàng bấm đèn soi, thấy anh mở mắt và đã cục cựa. Nàng quì xuống bên cạnh anh thở phào mừng rỡ:
-    Anh tỉnh lại rồi hả? Anh làm em sợ hết hồn.
     Anh quờ quạng tìm bàn tay Tuyền, nắm chặt và âu yếm nói với nàng:
-    Cám ơn em. Anh không sao đâu.
     Tuyền đưa cả hai tay nắm bàn tay anh. Tay anh lạnh ngắt. Nàng nâng niu bàn tay anh lên môi, rồi áp vào má nàng, giữ thế để lấy can đảm thú nhận:
-    Anh có biết em yêu anh lắm không? Em lo cho anh lắm.
-    Anh biết. Anh biết. Cám ơn em. Cám ơn Trời Phật đã ban em cho anh. Chúng ta sẽ bên nhau mãi mãi. Anh yêu em.
     Tuyền run lên vì xúc động. Nàng cúi xuống ôm ghì anh, áp mặt vào má anh rồi đặt nhẹ trên môi anh cái hôn đầu đời. Những giọt nước mắt sung sướng nóng hổi của Tuyền rơi lã chã trên khuôn mặt lạnh ngắt của anh. Nàng kéo vạt áo lau mặt anh rồi gục đầu xuống trên ngực anh. Cả hai chẳng còn biết nói gì. Họ im lặng lắng nghe cái tịch mịch của không gian. Cảnh vật thật yên tịnh. Chung quanh là bóng đêm bao phủ. Hàng cây xanh mờ mờ hãy còn đang say giấc. Con sông lặng lẽ trôi. Thỉng thoảng có tiếng chó sủa vu vơ từ xa vọng lại …..
     Tuyền đã tỉnh mộng. Nàng xiết chặt vòng tay đang ôm anh, đặt một cái hôn nữa trên môi anh rồi nói:
-    Mình đi tiếp nghe anh.
     Anh gật đầu.
     Tới Ngã Bẩy, đã tờ mờ sáng. Tuyền suy nghĩ nhưng gạt đi ý định đưa anh về nhà mẹ anh ở gần đó để tránh rủi ro và nhất là sợ nguy hiểm đến sức khỏe của anh. Nàng bỏ ghe lên bờ, tìm bao luôn một chuyến xe Lam chở anh đi Cần Thơ vào nhà thương Phan Thanh Giản. Ở đấy người ta băng bó lại vết thương cho anh và chuyền nước biển. Được biết đơn vị gốc của anh là trường Quân Y, người ta lại chuyển anh lên tổng y viện Cộng Hòa. Trong thời gian anh nằm ở bệnh viện, Tuyền liên lạc với chị và mẹ anh. Hai vợ chồng người chị hai của anh đều làm nghề thầy giáo dậy ở Saigon, vì thế mà việc chăm lo săn sóc cho anh cũng như chỗ ở cho Tuyền cũng tiện lợi. Anh nằm ở Cộng Hòa mất ba tháng. Cũng may mà anh còn nhớ được số xe của chiếc xe Lam chở anh đi Ngã Bẩy rồi bị bắt nên việc điều tra an ninh cũng không có gì khó khăn. Anh được bãi bỏ lệnh truy nã về tội đào ngũ nhưng không còn được học quân y mà phải chuyển qua học trường sĩ quan Thủ Đức. Ra trường anh làm đám cưới với Tuyền tại Saigon. Đám cưới  đơn sơ chỉ có bạn bè anh và một số người quen thân. Bên cô dâu chẳng có lấy một người. Chị của anh phải nhờ một người quen đại diện cho bên nhà gái. Anh được đưa về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê và phục vụ tại sư đoàn cho đến ngày Miền Nam rơi vào tay địch. Anh đi tù 4 năm. Được thả về, anh đạp xích lô kiếm tiền phụ với vợ anh để nuôi mẹ. Vào thời đánh tư sản, nhà máy xay lúa của me anh đã bị tịch thu và bà cũng bị đuổi ra khỏi nhà máy. Mẹ anh lên Saigon ở với con gái và con dâu. Cuộc sống thê thảm kéo dài cho đến ngày vợ chồng anh đi Mỹ theo diện H.O.
     Sang đến Mỹ anh vừa đi học thêm tiếng anh vừa đi làm. Anh làm đủ thứ nghề. Cuối cùng anh kiếm được một chân chạy bàn trong một tiệm ăn Mỹ. Công việc tương đối vững chắc và lương lậu cũng không đến nỗi chết đói. Vợ chồng anh không có con, mướn một căn studio trong một "xóm nhà lá" mà anh thường nói đùa với vợ là trụ sở Liên Hiệp Quốc. Ở đây có mặt đủ mọi sắc dân. Đen, vàng, trắng, đủ cả. Phi, Mỹ, Mễ, Chệt, Mít không thiếu. Vợ anh hay yếu đau nên anh không cho đi làm. Một đầu lương anh đem về tuy chẳng là bao nhưng khéo thu vén họ cũng không đến nỗi thiếu hụt. Dư chút đỉnh anh còn phải gởi về tiếp sức cho mẹ và chị anh. Cái ăn cái ở như thế cũng tụng tiệm rồi, nhưng cái xô bịch xô bồ ở đây thì không thiếu. Đám con nít skating, chạy xe đạp bạt mạng trên những lối đi. Chúng đá banh ồn ào ngoài sân cỏ. Tụi thanh niên trai gái tụ tập ăn nhậu mỗi weekend. Chúng mở nhạc xập xình đến điếc cả lỗ tai. Chúng ôm nhau sờ soạng hỗn loạn ngay dưới chân cột đèn. Chỉ có được một điều là giá mướn nhà ở đây rẻ hơn ở các nơi khác khá nhiều. Một thời gian, anh đã khám phá ra cái hình ảnh nước Mỹ qủa không thiên đàng như bạn bè anh trước kia đi Mỹ về mô tả. Ở cái "trụ sở Liên Hiệp Quốc" của anh đôi khi cũng có ăn cắp vặt, cũng không thiếu ruồi nhặng ban ngày, muỗi mòng ban đêm, và còn cả chuột bọ nữa.
     Hôm trước phone trong nhà tự nhiên bị hư. Anh đã kêu công ty đến sửa. Họ nói đường giây bên ngoài vẫn tốt. Nếu có vấn đề là ở bên trong. Muốn sửa anh phải trả tiền hoặc có thể kêu thợ ngoài. Anh vẫn chưa có thì giờ để quyết định việc đó. Tối nay, mãi hơn 10 giờ khuya anh mới về đến nhà. Mai là ngày off trong tuần nên hai vợ chồng không ngủ sớm như thường lệ. Trong lúc anh còn đang ngồi nhâm nhi ly cà phê nóng và coi tivi thì bất thần một vật gì quét trên mặt thảm thành một vệt đen trước mặt anh từ bếp tới chỗ đặt cái tivi. Nó bay vút như một cọng lá trong cơn bão. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn 40 watts anh không phân biệt được đó là cái gì. Anh vẫn ngồi yên suy nghĩ, mắt dán vào chỗ vệt đen biến mất. Không thấy động tĩnh gì, cái vệt đen trở lại. Nó hiện ra là một con chuột nhắt, chỉ lớn bằng ngón chân cái. Nó đứng qụi xuống, bụng sát mặt thảm, ria mép luôn luôn hỉn hỉn, hai mắt thò lỏ nhìn anh. Anh ngồi bất động để quan sát. Hình như nó đang ngạo nghễ anh hay còn dám nghinh anh nữa chưa biết chừng. Có thể nó cho rằng anh không phải là người vì "cái thằng người gì mà như phỗng đá?" Anh sực nghĩ ra nó chính là nguyên nhân của việc hư điện thoại trong nhà anh. Con chuột chạy rồi, vợ anh ngồi cạnh chợt ôm chặt lấy vai anh, nói thầm vào tai anh giọng lo âu:
-    Em sợ quá anh à!
-    Em sợ cái gì, con chuột thôi mà. – Anh trấn an vợ.
-    Nhưng em sợ …….
     Anh vẫn cứ tưởng vợ anh sợ con chuột thật. Anh vô tâm đến nỗi quên khuấy đi mất một chuyện quan trọng mà mới hồi trưa lão Bob còn nhắc lại với anh. Hôm trước lão Bob đen, người hàng xóm dễ mến của anh chờ cho mãi đến khuya anh đi làm về, gặp anh ở ngoài nhà đậu xe báo cho anh một cái tin động trời. Hẳn là chuyện khó nói lắm lão mới phải mở đầu bằng một lời cầu nguyện:
-    Cầu xin Chúa cho vợ chồng mày được luôn luôn hạnh phúc.
     Anh linh cảm thấy có chuyện gì chẳng lành và sốt ruột vì sự rườm rà bất thường của lão nên thúc dục:
-    Có chuyện gì mày nói thẳng cho tao biết, tao không ngại đâu.
     Lão ngần ngừ một hồi rồi mới chậm rãi nói:
-    Mày biết đấy. Tao là một thằng Vietvet nên tao rất quí mến người Việtnam. Có mày về  đây tao coi như có thêm một thằng bạn thân. Tao lo cho vợ chồng mày như cho gia đình tao. Vì thế tao mới dám nói với mày chuyện tao thấy để mong tránh được chuyện không hay có thể xẩy ra cho mày và vợ mày.
-    Cám ơn mày, Bob. Mày cứ nói thẳng đi. Khỏi cần rào đón nữa. Tao biết mày tốt với tụi tao.
-    Mà không phải tao cố tình tọc mạch đâu. Cũng không phải tao là một thằng lắm chuyện. Bất chợt tao thấy và để ý thôi. Tao thấy thế nào tao nói vậy. Mấy hôm nay có một thằng Việtnam cũng lớn tuổi rồi thường đến thăm vợ mày lúc mày đi làm. Lúc nó ra về tao thấy vợ mày tiễn nó ra đường. Vợ mày khóc. Tao không có ý nghe lén chuyện họ nói. Vả lại họ nói gì đâu tao có hiểu. Mày biết không?
-    Còn gì nữa? – Anh hỏi Bob.
-    Có vậy thôi. Dù sao mày phải cư xử tốt với vợ mày. Nó là người đàn bà tốt đấy.
     Anh hoàn toàn tin vào sự ngay thẳng của vợ anh nên nghe lão Bob nói anh cũng không cho là điều quan trọng. Có thể nàng gặp lại người thân chẳng may gặp chuyện khó khăn chăng mà nàng không muốn làm chồng phải bận tâm? Hỏi thẳng vợ thì anh thấy không nên. Anh sợ Tuyền bị shocked vì chạm tự ái. Anh có ý định tìm một cơ hội nào thuận tiện và khéo léo để tìm hiểu sự việc. Tuy nhiên ngay hôm sau trước khi đi làm, anh ghé qua lão Bob cho hắn biết số phone tay của mình rồi dặn lão hễ có thấy gì thì kín đáo gọi báo cho anh biết. Đến chiều tối thì Bob gọi cho anh. Anh tức tốc lái xe về nhà, lén đứng nép vào bức tường trước cửa sổ để nghe ngóng. Ngăn lưới chiếc cửa sổ không đóng kiếng nên anh nghe được bên trong rõ ràng. Câu chuyện đang gây cấn:
-    Ba khổ công mới kiếm ra được con. Bao nhiêu năm trời ba con xa nhau, ba luôn luôn tưởng nhớ đến con. Bây giờ gặp lại. Mấy ngày nay ba muốn nói chuyện đàng hoàng tử tế với con thì con lại không ngớt nặng lời và có thái độ gay gắt với ba. Ba không hiểu nổi tại sao con lại nhẫn tâm như thế được?
-    Đúng, làm sao ba hiểu được chuyện đó. Một người cao sang quyền quí, có thừa tiền thừa bạc, ngồi trên đầu trên cổ người ta như ba thì làm sao hiểu được chuyện nhân gian. Ba muốn nói chuyện tử tế với con à? Không lý một ông nhà nước lớn như ba cầm đầu một phái đoàn chính phủ sang đây chỉ để thăm đứa con gái bất hiếu của mình thôi sao? Phải còn chuyện gì khác nữa chứ? Ba nói thẳng ra đi, đừng có úp mở nữa. Có phải ba đi tìm chỗ giấu của của ba không? Ba ăn cướp được của người ta, giầu sụ thành đại tư bản rồi. Bây giờ ba muốn chùi mép kiếm chỗ giấu cho an toàn để khi có sa cơ lỡ vận, thất thời thất thế, ba có chỗ nương náu mà hưởng thụ. Đấy là chuyện tử tế sao?
-    Sao con nói thế được. Ba có lòng tốt tới thăm con. Thấy vợ chồng con ăn ở tồi tàn thế này, ba thật sự muốn giúp đỡ cho con thôi, chứ ba có lợi dụng gì con đâu.
-    Cám ơn lòng tốt của ba. Con được sống thế này là quá đầy đủ và hạnh phúc rồi, không cần đến lòng tốt của ba đâu. Hơn nữa ba quan tâm cho con bằng những đồng tiền nhơ bẩn dính máu của người khác thì không bao giờ. Có chết đói con cũng không cần đến ba giúp đỡ. Ba nhớ lại xem. Khi về thành ba có gì? Vài bộ đồ cũ mèm, cái sắc cốt rách nát, cái nón tai bèo, đôi dép râu, khẩu súng nữa thôi, chứ còn có gì nữa đâu? Ba có làm ăn buôn bán gì đâu mà tiền rừng bạc bể như thế? Ở đâu có? Ở đâu có cho ba đem sang bảo là giúp con? Mẹ chồng con trước kia dù sao cũng không đến nỗi thiếu ăn thiếu mặc mà sao bây giờ ra đến nông nỗi này, phải nương nhờ vào con cái ở bên này mà sống? Tại sao? Tại sao? Đấy là cách mạng à? Cách mạng là đi ăn cướp của người ta để mình sống sung sướng, còn bắt người ta phải chết đói à? Ba trả lời con đi. Nếu ba còn có chút lòng nhân muốn giúp đỡ người khác, ba hãy trở về giúp cho những người nghèo khó xấu số ở Việt Nam đi, họ là những nạn nhân của ba và của cái đảng cướp của ba đấy. Bao nhiêu trẻ em bị ném ra lề đường phải thiếu ăn, thất học? Bao nhiêu người con gái phải đi làm đĩ để kiếm sống tủi nhục trong các nhà chứa? Bao nhiêu trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục ở khắp nơi trên thế giới? Còn nhiều, nhiều nữa. Đấy ba về mà giúp cho họ đi nếu ba muốn hành thiện tích đức. Còn chuyện này nữa con nói luôn kẻo quên mất. Mười mấy năm trời nay con cứ ấm ức mãi ở trong lòng hoài. Mà ba phải thành thật cho con biết. Đó là chuyện anh Tỷ. Có phải chính ba đã ra lệnh cho thằng Đực đội trưởng du kích thủ tiêu anh Tỷ không? Lúc đó ba đã biết con yêu anh ấy rồi mà. Chuyện này nhất định ba phải thành thật cho con biết.
-    Bỏ qua đi. Chuyện lâu rồi con còn nhắc làm gì nữa.
-    Nhưng con muốn biết. Không thể bỏ qua được. Nhất định ba phải nói và nói thật, nói hết cho con biết. Ba không nói không được với con đâu.
-    Chuyện nó là thế này. Lúc bấy giờ R cho ba biết địch có ý định phá mật khu, ba phải có kế hoạch để ứng phó với mọi tình huống, cho nên con thấy ba có dám để thương binh nằm lại ở trạm lâu quá hai ngày đâu. Nếu rủi địch càn vô, thằng Tỷ là một chướng ngại trước mắt nên ba mới buộc lòng phải làm thế. Chẳng qua cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ mà thôi. Còn việc con thương nó, nhưng lúc đó con có dám chắc nó thương con không. Nó là người của địch. Việc con thương nó, trên quan điểm giai cấp con biết đó là quan hệ luyến ái không đúng với lập trường. Con có biết khi con đi rồi ba bị khiển trách và bị kiểm điểm như thế nào không? Những cái này đâu con có biết. Con cũng phải thông cảm cho ba chứ.
-    Cuối cùng thì ba cũng đã phải thừa nhận việc ba ra lệnh thủ tiêu anh Tỷ rồi. Ba cho đó là chuyện bất đắc dĩ. Được lắm. Vậy chứ còn những người thương binh thập tử nhất sinh ba không cho chuyển đi bệnh viện mà ra lệnh thủ tiêu họ tại chỗ cũng là bất đắc dĩ sao? Họ là những người đồng chí của ba mà. Họ đổ máu cho cái lý tưởng của ba đấy kia mà? Sao ba vô đạo và dã man đến thế được? Rồi, ngày ba tập kết ngoài Bắc trở về, con mới 14 tuổi đầu đang học lớp đệ lục. Ba ép mẹ con phải cho con theo ba ra bưng cầm súng để giết người. Đó cũng là chuyện bất đắc dĩ của ba sao? Có người cha nào đang tâm bắt con mình chịu thất học để đi làm những chuyện bất nhân thất đức như thế không? Con yêu anh Tỷ ba cho rằng con mất lập trường. Vậy chứ cái lập trường này là lập trường gì. Con là dân "ngụy" mà, bị ba cưỡng ép theo bọn giết người chứ có phải người của cái đảng cướp của ba đâu mà ba nói con mất lập trường? Còn nữa, con trốn đi rồi ba lại giận cá chém thớt, sai người về Chương Thiện hành hạ mẹ con cho đến nỗi bả phải tự vận mà chết. Đó cũng là chuyện bất đắc dĩ à? Chưa hết đâu, ba thắng cuộc rồi, ba tịch thu nhà máy của mẹ chồng con. Ba còn đuổi bả ra khỏi nhà máy. Chuyện này cũng là chuyện bất đắc dĩ nữa sao?
-    Về cái chết của mẹ con ba cũng buồn lắm. Thật ra ba chỉ có ý nhờ mẹ con tìm gặp để khuyên bảo con trở về thế thôi chứ có hành hạ gì mẹ con đâu. Còn cái chuyện tịch thu nhà máy thì không phải ba, mà là chánh sách chung của đảng. Ai cũng phải vậy hết. Sau này nhà nước hóa giá ba mua lại thôi chứ không phải ba lấy không.
-    Thì đúng rồi, đảng cướp của người dân rồi đảng chia cho đảng viên thì cũng như bọn gian nhân hiệp đảng đi ăn cướp rồi chia cho nhau thôi chứ có khác gì đâu. Nói tóm lại thì ba không thể nói chuyện tử tế với con được đâu nếu ba không từ bỏ cái tư cách tên cướp của ba đi. Tuy nhiên ba đã mất công tới đây rồi, không lẽ con lại vô tâm nỡ để ba trở về không. Nếu ba muốn, con có ý kiến giúp ba để ba lo công việc của ba. Ba bằng lòng chứ?
-    Ý kiến thế nào con cứ nói.
-    Việc ba muốn đưa tiền qua bên này để gởi hay kinh doanh gì đó thì cũng dễ thôi. Có nhiều cách để làm. Thứ nhất là ba đưa bà vợ Hànội của ba với mấy đứa con bả sang đây để bả quản lý tiền bạc cho ba là tiện nhất. Thiếu gì đứa cho con cái sang bên này du học để chuyển của. Còn nếu ba không muốn xa vợ xa con thì ba có thể cưới thêm vài ba bà nữa ở bên này để mấy bả lo cho ba thì có lợi cho cả đôi bên. Nếu ba không tin được đàn bà bên này thì chỉ có cách này là chắc ăn. Ba nên mướn luôn người quản lý ngay ở đây cho tiện. Phương pháp này là tốt nhất. Bên này người ta làm ăn có sổ sách đàng hoàng. Không ai dựt được của ba đâu. Chuyện mướn người thì quá dễ. Những người càng bằng cấp cao, chức tước lớn càng có kinh nghiệm và thạo việc. Giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ , ca sĩ, rồi còn cả tướng tá cuả chế độ cũ nữa. Loại nào cũng có. Cỡ nào cũng có. Loại chuyên gia này không nhiều lắm nhưng chắc chắc không thiếu. Ba đừng sợ không có người. Chỉ cần ba liệng đồng tiền có mùi máu tanh của ba xuống đất thì không thiếu sư, sĩ, tướng, tá nhẩy vào tranh nhau như đàn chó tranh cục xương. Bọn này ba huơ tiền ra trước mặt là nó ngoan ngoãn để ba tròng giây vào cổ. Ba bắt nó đeo cái bằng cấp hay chức tước nó có trước ngực như chó đeo name tag vậy. Ba có thể dẫn nó đi ngoài phố như ở bên Mỹ này người ta dẫn chó đi chơi không khó. Thậm chí khi về nhà đi cầu, ba kêu nó liếm đít cho ba nó cũng liếm nữa. Có những đứa thích chức tước, ba chỉ cần thí cho cái chức "sách cặp" thôi là nó đã thỏa mãn và hãnh diện lắm rồi. Ba không thấy thiếu gì ông sư này, ông sĩ nọ, ông tướng này, ông tá kia về Hànội khúm núm bưng bô, sách cặp cho lũ đồng chí vô học của ba đấy sao. Chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít mà sai bảo được bọn sư, sĩ, tướng, tá có sướng mê không! Nhiều điển hình lù lù còn đó, ba biết rõ mà. Con nói có sách mách có chứng, chứ không ăn nói hồ đồ quàng xiên đâu. Ba cứ về suy nghĩ đi, biện pháp nào tốt cho ba nhất thì ba thực hiện. À mà còn chuyện này nữa, chuyện chót. Có phải ba đến nhà mẹ chồng con bắt bả phải cho ba địa chỉ của chúng con bên này không?
-    Ba có cho người đến hỏi nhưng bà ta nói không biết.
-    Thế tại sao ba biết chúng con ở đây mà đến?
-    Các đồng chí của ba bên này thiếu gì. Đây là chuyện nhỏ thôi.
-    Vì chuyện này, nếu ba về mà làm khó dễ mẹ chồng con là không được đâu đấy. Tuyệt đối không được. Nếu có chuyện gì, xin lỗi ba, con không để cho ba yên đâu. Con nói trước.
     Thấy câu chuyện bên trong cũng đã tới hồi kết thúc, ở thêm nữa sợ bị phát giác, anh rút dù ra xe trở lại chỗ làm. Trên xe, anh thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng. Chuyện lão Bob lo thì ra là việc ông bố vợ anh sang thăm con gái. Ông dự tính thiết lập đầu cầu bên này để phòng khi bất trắc ông chuồn êm. Cám ơn Trời Phật, vợ anh đã biết xử sự, gác bỏ cái thường tình, đứng về phía công lý và lẽ phải. Công cha như núi thái sơn nhưng không thể để nó che lấp công lý và lẽ phải được. Nàng đứng vững được trên đôi chân đó thật là can đảm. Anh cảm thấy như lúc này anh yêu vợ anh còn hơn cả ngày nào anh bị thương nằm trên ghe máy nàng chở anh đi trốn.
     Hết giờ làm, anh về nhà như thường lệ. Anh bước vào nhà tỉnh bơ như không có chuyện gì xẩy ra. Nhưng trong nhà thì hơi khác với thường lệ. Trên bàn đã có sẵn một lon bia và một ít đồ nhậu cùng với đũa chén sẵn sàng. Còn vợ anh chỉ mặc một cái áo ngủ ngắn đeo giây mầu xanh mỏng dính ngồi trên chiếc sofa đọc báo. Anh đứng trước mặt vợ cười cười làm bộ ngạc nhiên hỏi:
-    Thế này là thế nào?
     Tuyền ngẩng mặt lên nhìn anh cười mời mọc:
-    Hôm nay em thưởng cho anh đấy.
     Anh cúi sà xuống ôm Tuyền ghé miệng sát vào tai nàng:
-    Có công gì mà thưởng đây?
-    Cứ phải có công mới thưởng đưọc sao?
     Tuyền nũng nịu quàng hai tay lên cổ chồng ghì sát. Anh đẩy nàng ngả người vào thành ghế, hôn điên dại trên má, trên môi, xuống cổ, rồi xuống vùng ngực hở trắng ngồn ngộn căng cứng. Bàn tay anh cùng lúc xục xạo khắp hang cùng ngõ hẻm trên cái vũ trụ Eva quá sức mời gọi của nàng để tìm tòi và khám phá những kỳ công của Tạo Hóa trên đó, từ những đỉnh đồi chênh vênh thơ mộng với các triền dốc lả tả mây mờ , miền cao nguyên hoang vu tuyết phủ, đến tận khu đồng cỏ non xanh ngun ngút giữa vùng thiên nhiên hoang dã có động Thiên Thai huyền ảo với dòng suối Ngọc Tuyền vô cùng quyến rũ ….. Cuộc thám hiểm càng lúc càng say sưa điên loạn du Tuyền dần vào bến mê, bồng bềnh trôi nổi từ rạo rực, tê mê, háo hức, cuồng điên đến đờ đẫn, phờ phạc, rũ rượi, mệt nhoài. Nàng hết còn chịu đựng nổi, buông dài trên sofa nằm thở, phải đưa tay tát nhẹ vào má chồng van xin:
-    Anh tham lam quá à, làm em mệt muốn chết rồi nè. Thôi tạm ngưng chiến đi. Anh đi thay đồ rồi ăn có nguội mất.
     Anh biết vợ mình đang vui vì đã giải tỏa được những ấm ức bấy lâu nay trong lòng, cũng là lúc trong nàng dâng tràn tình yêu nồng nàn nhất cho anh không còn kìm hãm nổi. Anh cứ để mặc cho vợ anh tự nhiên. Anh vào thay đồ vẫn còn đùa dỡn với nàng:
-    Anh sợ uống la de rồi đi lạc thì không biết đường nào mà lên Thiên Thai nữa đây.
     Tuyền cũng tiếu lâm lại:
-    U-Minh Thượng, U-Minh Hạ đường nào thì cũng tới thôi. Còn đi lạc thì anh khỏi lo, em lấy ghe máy chở anh về tới nhà, bảo đảm.
     Lúc đi làm về vô nhà, anh cố ý để cửa mở vì biết thế nào Bob cũng ra coi chừng. Quả nhiên, anh vừa thay đồ bước ra thì lão Bob đi ngang ngó vô. Lão cười hỏi vọng vào:
-    Mày về rồi hả, Thai?
-    Mới về đây, mày có rảnh vô uống với tao một lon đi?
-    Thôi cám ơn. Tao cũng mới uống. Khuya rồi để vợ chồng mày ngủ sớm. Thấy vợ chồng mày hạnh phúc tao rất mừng. Cám ơn Chúa. Thôi chúc ngủ ngon.
-    Cám ơn mày nhiều lắm nghe Bob.
     Tuyền không thể hiểu được ý nghĩa tiếng cám ơn lão Bob của chồng. Nhưng Bob thì rất hiểu. Lão nghe rồi thì yên tâm đi ngay. Anh ra đóng cửa lại. Trở vô, anh tiếp tục âu yếm vợ nhưng cố ý xoay chuyện sang hướng khác, anh hỏi Tuyền:
-    Mấy hôm nay con chuột có còn ra nhát em nữa không?
     Nàng cũng không hiểu dụng ý của chồng, vẫn hồn nhiên trả lời anh:
-    Không thấy nữa. Mà nó nhát anh chứ nó nhát em đâu.
-    Nó không nhát em sao em sợ?
-    Em sợ hồi nào?
-    Không sợ mà nhìn thấy nó là quýnh lên, ôm lấy người ta.
-    Em sợ chuyện khác kìa.
      Anh tảng lờ, làm như không nghe Tuyền trả lời, tiếp:
-    Được rồi, anh biết cái lỗ nó chui ra chui vô rồi. Mai anh đi mua cái bẫy dính để trước cửa lỗ. Anh chàng chui ra thế nào cũng dẵm lên. Thế là có mà chạy lên trời. Anh tính sẽ rôti để mời lại em một bữa.
-    Xí, em không thèm đâu.
-    Làm bộ hoài. Hồi ở trạm em không thường ăn chuột, ăn rắn đấy sao?
-    Chuột đồng khác, chuột nhà khác. Chuột nhà ghê thấy mồ. 
      Tuyền vẫn lắc léo hồn nhiên. Anh tin chắc nàng không biết gì về việc anh đứng rình nghe ngoài cửa sổ. Anh cảm thấy yên tâm. Anh nghĩ Tuyền cũng muốn giấu anh việc cha nàng tính thủ tiêu anh, tịch thu rồi đuổi mẹ anh ra khỏi nhà máy. Anh thà để nàng chôn dấu những chuyện đó như một bí mật chết mang đi còn hơn là cho nàng biết việc mình đã nghe lén. Vợ chồng sống thành thực với nhau là điều bắt buộc, nhưng có những chuyện người khôn ngoan không nên nói vẫn là hơn để giữ hạnh phúc gia đình.
     Anh ngồi nhâm nhi lon la de suy nghĩ từ câu chuyện giữa hai cha con vợ anh lúc nãy nhận ra rằng chỉ có những người lương thiện, thành thật sống với nhau mới có thể nói chuyện tử tế với nhau được. Ngược lại, kẻ bất lương chẳng bao giờ biết nói chuyện tử tế. Điều đó thì chắc đúng. Từ ngày trốn ra được khỏi bưng biền với anh, nét u uẩn buồn thảm trên mặt Tuyền đã biến mất, thay vào đó là vẻ hồn nhiên vui tươi và rạng rỡ. Đó là một minh chứng tích cực cho những suy nghĩ của anh.
     Anh đang bận theo đuổi những suy nghĩ nên hết còn ồn ào, và hình như đã quên đi mất có vợ bên cạnh nên cứ điềm nhiên tự tại, ngồi rỉ rả lon la de. Tuyền bắt đầu ngáp dài, nàng ngả đầu vào vai anh, vòng tay ôm, phụng phịu với chồng:
-    Thôi cạn đi còn tiếp tục chiến đấu rồi đi ngủ, sư huynh. Khuya rồi đấy.
    
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Go to TOP

 
  BONJOUR VIETNAM -
SON NGHI
Tôi chưa bao giờ viết về một nhân vật nào có thực. Trong dăm ba truyện ngắn, tôi vẽ lên những nhân vật tưởng tượng theo ý của tôi, mang nhiều nét hư cấu hơn là thật. Đây là lần đầu tiên tôi viết về một nhân vật đang sống giữa chúng ta, những người Việt tỵ nạn. Một cô gái, nói đúng hơn, một cô bé vừa 19 tuổi.

Tôi phải viết đôi dòng về cô bé, về bản nhạc cô gửi gắm tâm sự. Có lẽ đây là nỗi băn khoăn chung của các cháu sinh ra và lớn lên ở xứ người, muốn tìm về cội nguồn. Nhưng lý do chính để tôi viết về cô vì đây cũng chính là niềm khắc khoải của riêng tôi.

Vào những ngày cuối năm, gần Tết Âm lịch, một người bạn gửi cho tôi một trang nhà có hình một cô bé và kèm theo một bài hát do chính cô hát. Cái tựa đề bài hát làm tôi chú ý, "Bonjour Vietnam". Cái số vốn Pháp ngữ của tôi đã rỉ sét từ lâu, nhưng đọc một vài hàng chữ, tôi cũng hiểu lờ mờ ý nghĩa của bài hát. Tò mò, tôi bấm nút "play" để nghe cô trình bày.

Trước hết, tôi xin ghi lại lời Việt của D.H., một người trên diễn đàn, đã bỏ công dịch rất thoát nhưng vẫn giữ được nguyên vẹn ý nghĩa tuyệt vời của bài hát. Tôi cũng xin ghi lại nguyên bản của Marc Lavoine.

Mến chào Việt-Nam

Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi
mà tôi đã đeo mang tự thuở chào đời
Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi
Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám nói
Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt-Nam

Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân nhỏ bé
mà tôi đã mang lấy tự thuở nằm nôi.
Hãy kể tôi nghe về căn nhà, con đường, hãy kể tôi nghe về vùng đất lạ
Về những phiên chợ nổi trên sông và những con thuyền tam bản bằng gỗ.
Tôi chỉ biết quê hương qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt-Nam

Chào hỏi dùm những người cha của tôi, những ngôi chùa và những thạch tượng Phật,
Chào hỏi dùm những bà mẹ của tôi, những phụ nữ đang còng lưng trên ruộng lúa,
Trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh,
tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt-Nam (2 lần)


Giọng hát cô cao vút, trầm lắng vào những đoạn thở than, nhắn gửi. Nhất là điệp khúc: Un jour, j'irai là-bas, un jour dire bonjour à ton âme. Un jour, j'irai là-bas [pour] te dire bonjour, Vietnam… nghe thật buồn. Về chỉ để chào mảnh đất thân yêu, nơi mà cha mẹ cô đã gạt nước mắt ra đi. Cô chỉ nghe nói đến mảnh đất buồn thảm này qua sách báo, qua phim ảnh mà chưa hề một lần đặt chân đến. Ôi! Bản nhạc diễn tả nỗi khắc khoải của lớp trẻ muốn tìm về cội nguồn, để thấy lại màu da, để ngửi được mùi của đất, của núi rừng và biển mặn và từ đó hiểu được nỗi cơ cực của cha ông đã từng giữ nước bằng máu và mồ hôi.

Tôi thương nhất hai chữ Việt nam cô buông nhẹ ở cuối bài hát nghe bùi ngùi làm sao! Lòng tôi chùng xuống. Nhắm mắt lại tôi thấy cả một dĩ vãng, mảnh đất nơi tôi sinh ra và lớn khôn. Ôi! Biết bao kỷ niệm vui buồn mà đến tận bây giờ vẫn còn in đậm nét trong tâm trí. Căn nhà thuở tôi còn nhỏ, vào những ngày lụt lội không thể đến trường, tha hồ đùa giỡn với mực nước ngập đến ngang đầu gối. Những lần chơi rượt bắt với chúng bạn, ném vụ, đánh khăng… Giã từ những trò chơi trẻ con, tôi lớn lên và bắt đầu ươm mơ cùng với đèn sách. Những đêm chong đèn học thi đến mệt nhoài, buổi sớm mai thức dậy uể oải người nhưng vẫn cắm đầu vào chồng sách miệt mài. Tôi trở thành người lớn sau vài ba năm ở đại học và thoáng một ngày cuối tháng Tư nắng gắt, tôi không còn thấy tôi nữa. Tôi sống chìm giữa đau thương chung của dân Việt, băn khoăn không biết phải làm gì có ích cho đất nước, cho gia đình. Rồi cuối cùng tôi đành phải bỏ mảnh đất đó để ra đi tìm tự do như bao nhiêu người khác…

Hai tiếng Việt nam ở cuối câu hát phả nhẹ vào lòng tôi hương thơm ngày cũ. Tôi không có dịp quay trở lại quá khứ, chỉ trong những đêm trằn trọc giấc ngủ trễ, hoặc những dịp tình cờ nghe đâu đó một bản nhạc nhắc nhở một kỷ niệm nằm chôn dấu sâu trong tâm tư. Những lúc đó, tôi âm thầm sống lại với dĩ vãng.

Tôi cảm nhận được quá khứ qua hai nốt nhạc ở cuối câu của Marc Lavoine, người nhạc sĩ. Mà không riêng gì hai nốt nhạc của chữ Việt nam mà mỗi cuối câu Marc Lavoine đều điểm thật nhẹ rất thần tình, có khi cùng một nốt (la guerre, petit pieds, inconnu, ma terre…), có khi khác nốt (bridés, colère, mes mères…) nhưng đều để lại một cái gì thật nhẹ, thật lưu luyến, vấn vương.

Tôi không hiểu nhiều về âm nhạc, nhưng với một bản nhạc đầy ý nghĩa như thế được diễn tả qua giọng hát trong veo của một cô gái Việt đã làm tôi thổn thức. Nỗi thao thức của lớp trẻ hôm nay muốn tìm về cội nguồn cũng là niềm thao thức của tôi sau bao nhiêu năm rời bỏ mảnh đất thân yêu.

Gia đình tôi thuộc loại đông con, gồm tất cả 11 người con. Sống đủ, không thiếu một đứa. Đôi ngả cách trở vì tôi còn 4 đứa em ở lại mảnh đất khốn khổ đó. Chỉ vì chúng nó là con gái, lập gia đình sớm nên không thể đi theo diện bảo lãnh được. Ngày tôi ra đi, con bé thứ 9 trong gia đình chỉ mới hơn mười tuổi. Giờ đây, nó đã gần bốn mươi. Con bé là đứa em gái đẹp nhất trong nhà (theo nhận xét của riêng tôi), giờ đây nhìn hình chỉ còn thoảng một vài nét thanh tú, tất cả đã hao mòn theo tháng năm.

Anh em gần 30 năm không gặp lại nhau. Ba mươi năm thì lâu lắm. Cứ nghĩ mà xem, ba mươi mùa Xuân, gần mười một nghìn ngày, hơn một thế hệ, và nhất là ba mươi cái Tết. Nếu cứ sống được trọn 70 thì ba mươi năm đã gần nửa đời người. Tôi cứ nghĩ đến con số 30 mà lòng buồn rười rượi. Hơn chục năm trước, mỗi dịp Tết tôi đều gọi phôn nói chuyện với chúng. Độ mấy năm nay, chúng nó lại gọi phôn cho tôi (tiền bên này gửi về mới đủ sức gọi điện thoại). Lần nào chúng cũng nhắc tôi phải về thăm lại Việt nam một chuyến. Thăm Việt nam nhưng thật ra để chúng gặp mặt tôi, thằng anh cả trong gia đình. Một đứa em tôi hỏi không lẽ anh em không bao giờ gặp mặt nữa hay sao? Thú thật, tôi nhớ chúng nó lắm chứ, nhất là con bé thứ chín, bây giờ đã hai mặt con, vẫn lam lũ, vẫn khó nhọc với mảnh vườn khô héo, vẫn đổ mồ hôi lo lắng cho chồng con. Đôi lúc tôi chỉ muốn quay về ngay để gặp lại những đứa em vì hoàn cảnh phải ở lại để chật vật với cuộc sống, cam khổ với cuộc đời qua hai bữa cơm trong ngày. Thế mà đến nay, năm Bính Tuất, sau bao nhiêu lần quyết định, tôi vẫn chưa hề quay lại để cất tiếng chào Việt nam như lời hát của cô bé, để gặp những đứa em gái chưa hề thấy mùa Xuân từ thuở mới lớn, những nét thanh tú đã phai mòn theo năm tháng và khuôn mặt bây giờ hằn sâu những nếp nhăn là chứng tích của vất vả, của trầm luân, và khó nhọc.

Nếu không khó nhọc thì không thể kiếm đủ hai bữa ăn cho gia đình, mấy đứa em tôi nói thế. Đời sống lại khó khăn hơn vì vật giá leo thang, vì người nhiều việc ít, vì chi phí việc học cho con ngày càng tăng. Chỉ xin Chúa hàng ngày dùng đủ là đã thấy lộc Trời. Nghĩa là kiếm cho con cái đủ hai bữa ăn thì đã cảm tạ ơn Ngài rồi. Đôi lúc tôi lẩn thẩn nghĩ con người sinh ra chỉ mong kiếm đủ hai bữa cơm cho gia đình thôi sao? Còn gì khác hơn nữa chứ! Sống thế thì chẳng khác gì con thú trong rừng, ăn no rồi nằm ngủ, thức dậy khi đói và lại đi kiếm mồi, ăn no lại nằm ngủ… Tôi không dám nghĩ mấy đứa em tôi có giấc ngủ ngon vì phải nằm suy tính cho ngày mai trong suốt đêm thâu. Suy nghĩ cho cùng thì mấy con thú này so ra vẫn sung sướng hơn mấy đứa em tôi nhiều, vì chúng chẳng phải lo nghĩ. Cứ thức dậy là đã có đàn nai quanh quẩn, tự làm mồi cho cái dạ dày thèm thịt tươi. Chẳng bù với những con em tôi, chẳng bù với gần 80 triệu dân ở cái đất khốn khổ (vì đói rách), khô cằn (vì tài nguyên bị bóc sạch), và khốc liệt (vì kiếm ăn tranh sống) đang sống lất lây.

Có lẽ vì thế mà tôi không muốn về. Chẳng thà để tiền mua vé máy bay cho cả gia đình tôi về thăm quê hương mà giúp gia đình chúng nó vẫn hơn. Đồng tiền này giúp mấy đứa cháu tôi có thêm chút chất béo trong hai bữa cơm, chúng có cơ hội học lên cao hơn, cha mẹ chúng chắc chắn sẽ vui khi thấy con cái ăn đủ no, học giỏi. Và tôi cũng vui lây.

Mãi đến hôm nay, khi nghe giọng hát của cô bé muốn tìm về cội nguồn, lòng tôi lại thao thức muốn trở về một chuyến để thăm lại mấy đứa em tôi, để nhìn lại những khuôn mặt vốn già hơn số tuổi đời chồng chất những thương đau. Trong cái không khí linh thiêng của Đất Trời chuẩn bị đón Xuân, tôi muốn ôm những đứa cháu vào lòng hơn bao giờ, tôi muốn chạm tay vào những giọt nước mắt chảy dài trên đôi má rám nắng của những đứa em tôi khi trùng phùng hội ngộ hơn lúc nào hết, tôi muốn ôm cả hồn thiêng sông núi Việt nam để giữ mãi trong lòng… muôn thuở.

Cám ơn cháu Phạm Quỳnh Anh đã cho tôi những giây phút tuyệt vời của dòng nhạc, của giọng hát, chuyên chở một trời Việt nam đến cho mọi người, trong đó có tôi.
Sơn Nghị

Go to TOP